Trình tự, thủ tục phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn rất quan trọng sau khi đã thực hiện xong thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố. Hãy cùng Dong Bang Law tìm hiểu về trình tự phiên toà sơ thẩm hình sự theo quy định mới nhất.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam là chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được bảo đảm. Trong đó, giai đoạn xét xử sơ thẩm có thể được xem là giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tại đây, Tòa án sẽ tiến hành xét xử, trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và các chứng cứ, lập luận của các bên, để xác định một người có tội hay không. Để đảm bảo tính khách quan, công bằng và tuân thủ pháp luật, việc nắm rõ trình tự và thủ tục của phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là điều cần thiết. Vậy, một phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự sẽ diễn ra như thế nào? Hãy cùng Dong Bang Law tìm hiểu trong bài viết dưới đây!

1. Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu như thế nào?

Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự có thể được xem như là giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự (trừ trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị). Đây là nơi Tòa án trực tiếp xét xử, dựa trên bản cáo trạng của Viện kiểm sát và toàn bộ hồ sơ vụ án, để quyết định bị cáo có tội hay không và hình phạt đối với họ. Sau khi nghe đầy đủ các lập luận và chứng cứ, Hội đồng xét xử sẽ nghị án và đưa ra bản án sơ thẩm. Bản án này có thể tuyên bị cáo có tội hoặc không có tội, và quyết định hình phạt cụ thể. Nếu các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm, họ có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để xét xử phúc thẩm.

2. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
• Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
• Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

3. Nội quy phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, nội quy phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được quy định như sau:
Thứ nhất, mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án.
Thứ hai, mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.
Thứ ba, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án. Bị cáo phải đứng khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa muốn trình bày ý kiến phải được chủ tọa phiên tòa đồng ý; người trình bày ý kiến phải đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi. Những người vì lý do sức khỏe có thể được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi.
Thứ tư, tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa phiên tòa cho phép.
Thứ năm, người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

4. Trình tự, thủ tục phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục thông thường

4.1. Chuẩn bị và khai mạc phiên tòa

Căn cứ theo quy định tại Điều 300 và Điều 301 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, phần chuẩn bị và khai mạc phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được quy định như sau:
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án phải tiến hành các công việc:
• Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do
• Phổ biến nội quy phiên tòa.

Sau khi Thư ký Tòa án hoàn thành các công việc nêu trên thì:
• Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử
• Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt
• Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ

4.2. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật

Căn cứ theo quy định tại Điều 302 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, chủ toạ phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

4.3. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

Theo quy định tại Điều 305 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

4.4. Tranh tụng

Việc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự được diễn ra theo trình tự sau đây:

Bước 1: Công bố bản cáo trạng
Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.

Bước 2: Xét hỏi
(1) Trình tự xét hỏi như sau: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi. Đồng thời, Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.
(2) Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố:
Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên không được công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên Chỉ được công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi thuộc một trong các trường hợp:
• Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố
• Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố
• Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố
• Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết
***Lưu ý: Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
(3) Hỏi bị cáo, Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, Hỏi người làm chứng, Hỏi người giám định, người định giá tài sản để làm rõ những vấn đề chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn.
(4) Xem xét vật chứng; Nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; Xem xét tại hiện trường nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án (nếu xét thấy cần thiết)

Bước 3: Kết thúc việc xét hỏi
Khi xét thấy những tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu không có yêu cầu xét hỏi thì kết thúc việc xét hỏi; nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi.
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn.

Bước 4: Tranh luận
Trình tự phát biểu khi tranh luận:
• Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội
• Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa
• Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến
• Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội
Nguyên tắc tranh luận:
• Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án
• Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình
• Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa
• Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác
• Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại
• Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận
• Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án

Bước 5: Trở lại việc xét hỏi (nếu cần thiết)
Nếu qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

Bước 6: Bị cáo nói lời sau cùng
• Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận
• Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc hỏi. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.

4.5. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa

• Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
• Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó.

4.6. Nghị án và tuyên án

Theo quy định tại Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 việc nghị án và tuyên án được quy định như sau:
Sau khi kết thúc tranh luận, hội đồng xét xử vào phòng nghị án để thảo luận về quyết định bản án, tiến hành xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, lời bào chữa, ý kiến của bị cáo, người có lợi ích cần được giải quyết trong vụ án. Thành viên hội đồng xét xử tiến hành biểu quyết các vấn đề của vụ án theo đa số.
Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.

5. Trình tự, thủ tục phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn

5.1. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Căn cứ quy định tại Điều 456 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện sau đây:
• Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú
• Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
• Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng
• Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng

5.2. Trình tự phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn

Căn cứ quy định tại Điều 463 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, trình tự phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn được quy định như sau:
• Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành
• Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố
• Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục thông thường đã trình bày ở phần 4 nêu trên nhưng không tiến hành nghị án.


Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến Trình tự, thủ tục phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những giai đoạn tố tụng quan trọng nhất. Đây là nơi Tòa án, Viện kiểm sát và các bên liên quan cùng nhau làm sáng tỏ sự thật, đánh giá hành vi phạm tội và đưa ra phán quyết. Việc nắm vững trình tự, thủ tục của phiên tòa không chỉ giúp các bên chủ động hơn mà còn đảm bảo tính công bằng, minh bạch của quá trình xét xử.Nếu quý khách cần tư vấn hoặc cần tìm luật sư bào chữa tham gia tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, hãy liên hệ ngay với Dong Bang Law – Hotline 08 22 22 55 12 để được hỗ trợ nhanh nhất.